Khoái Triệt khuyên Hàn Tín

0
125

   Cuối đời Tần có một người tên là Khoái Triệt, hay gọi là Khoái Thông. Người này thì thực tài, thường cố vấn cho Hàn Tín về mưu kế, Hàn Tín theo đó mà đánh thắng được Tề, được phong làm Tề Tín Vương, có đất rộng dân đông. Thiên hạ lúc đó có Hán Lưu Bang và Tây Sở Bá Vương Hạng Vũ đang tranh giành nhau thiên hạ, thế cuộc lúc này ai có Hàn Tín thì sẽ giành được thắng lợi. Hạng Vũ trong cái vẻ nóng nảy tàn bạo, có cái khoan dung nhân từ. Lưu Bang trong cái vẻ nhân ái được lòng người, lại ẩn sự tham lam đố kỵ nham hiểm. Theo ai trong hai người này cũng đều chẳng bền được, mà với tài năng cộng với tiềm lực đang có, chi bằng Hàn Tín cứ ngồi im xem hai nhà đánh nhau, làm thế chân vạc chia ba thiên hạ, là có lợi mà bền hơn cả. Khoái Triệt nghĩ vậy bèn nói với Hàn Tín rằng:

– Tôi đã từng học thuật xem tướng.Hàn Tín nói:

– Phép xem tướng của tiên sinh như thế nào?

– Ông đáp:

– Sang hay hèn là ở cốt cách. Vui hay buồn là nét mặt, được hay thua là ở quyết đoán. Gộp cả ba điều ấy mà xem thì vạn người không sai một.Hàn Tín nói:

– Hay đấy. Tiên sinh xem quả nhân như thế nào?

– Xem mặt của tướng quân chẳng qua chỉ được phong hầu. Xem lưng của tướng quân thì sang không thể nói hết.Nguyên văn câu này là:      Tướng quân chi diện bất quá phong hầu, tướng quân chi bối quý bất khả ngôn. Ý Khoái Triệt muốn chơi chữ để thuyết phục Hàn Tín. Theo chữ Hán, chữ “bối” là “lưng”, có thể đọc là “bội”, mang nghĩa “phản bội”. Xem tướng lưng là có ý bảo Hàn Tín quay lưng với vua Hán, tức là nên phản Lưu Bang.Hàn Tín hỏi:

– Tại sao lại nói như vậy?Khoái Triệt nói:

– Lúc thiên hạ mới khởi sự, các anh hùng hào kiệt đều xưng vương, hiệu triệu kẻ sĩ trong thiên hạ như mây họp, sương mù tụ lại, nhan nhản như vẩy cá, tấp nập như lửa bốc, như gió thổi… Lúc bấy giờ, họ chỉ lo nghĩ đến việc tiêu diệt nhà Tần đang suy vong mà thôi.

  Nay Sở và Hán tranh giành nhau khiến cho gan mật của những người trong thiên hạ phơi dầy đất, cha con bỏ xương ở ngoài đồng nội, kể không sao xiết. Người Sở nổi lên ở Bành Thành, vừa đánh vừa đuổi mãi đến thành Huỳnh Dương, thừa tình thế thuận lợi, cuốn như cuốn chiếu, uy thế vang lừng trong thiên hạ. Tuy vậy, quân của họ bị khốn ở giữa miền đất Kinh, đất Sách, bị núi tây cản trở không sao tiến lên được , đã ba năm nay rồi. Vua Hán cầm mấy chục vạn quân, giữ đất Củng, đất Lạc, dựa vào núi sông hiểm trở, nhưng một ngày đánh mấy lần vẫn không được chút công lao gì, thua chạy không sao tự cứu, bị đánh bại ở Huỳnh Dương, bị thương ở Thành Cao, sau đó chạy sang giữa miền đất Uyển đất Diệp, có thể nói là người khôn hay người mạnh cũng đều bị khốn.

   Nay nhuệ khí bị nhụt ở trước cửa ải hiểm trở, lương thực ở trong kho lại hết, trăm họ mỏi mệt, hết sức oán giận, nháo nhác không nơi nương tựa. Theo tôi, tình thế này nếu không có kẻ hiền thánh trong thiên hạ thì không sao dẹp nổi tai họa trong thiên hạ. Hiện nay tính mạng của hai vua đều treo ở tay túc hạ. Túc hạ theo Hán thì Hán thắng, theo Sở thì Sở thắng. Tôi xin phơi bày gan ruột, nói rõ lòng thành, trình bày cái kế ngu muội của tôi, chỉ sợ túc hạ không biết  dùng.

   Nếu quả túc hạ nghe theo mưu kế của tôi, thì không gì bằng làm lợi cho cả đôi bên khiến họ đều sống chia ba thiên hạ, đứng theo thế vạc ba chân. Trong tình thế ấy thì cả hai bên không ai dám động binh trước. Túc hạ là người hiền thánh, quân sĩ đông, giữ lấy nước Tề hùng mạnh, bắt nước Yên, nước Triệu theo mình, xuất quân ra miền đất trống ở đằng sau lưng họ mà kiềm chế hậu phương họ, thuận theo dân mong muốn quay đầu về hướng tây để cho trăm họ được sống thì thiên hạ thế nào cũng chạy theo như gió thổi, như tiếng vang, còn ai dám không nghe ! Túc hạ cắt đất nước lớn, làm yếu nước mạnh, để lập chư hầu. Sau khi chư hầu đã được lập, thiên hạ lại nghe theo mà cảm tạ ân đức của nước Tề. Túc hạ cứ giữ lấy nước Tề cũ, nắm lấy đất Giao, đất Tứ, lấy đức của mình để vỗ về chư hầu, kín đáo nhún nhường thì các vua trong thiên hạ thế nào cũng kéo nhau đến chầu vua Tề vậy.

   Tôi được nghe: “Trời cho mà không lấy, thì sẽ mang lấy tội, thời cơ đến mà không theo thì sẽ mang lấy họa”, xin túc hạ suy nghĩ cho kỹ.Hàn Tín áy náy, trả lời ông:

– Vua Hán đối đãi tôi rất hậu, lấy xe của mình để cho tôi đi, lấy áo của mình để cho tôi mặc, lấy cơm của mình để cho tôi ăn. Tôi nghe nói “đi xe người ta thì lo điều lo của người ta, mặc áo của người ta thì mang điều lo nghĩ của người ta, ăn cơm người ta thì chết cho công việc của người ta”. Tôi lẽ nào lại chạy theo lợi mà quên nghĩa?Khoái Triệt nói:

– Túc hạ tự cho là mình thân với vua Hán, muốn xây dựng cái công nghiệp muôn đời. Tôi trộm cho thế là lầm. Xưa kia, lúc Thường Sơn Vương và Thành An Quân còn là kẻ áo vải thì cùng kết nghĩa, làm bạn sóng chết có nhau. Sau đó, vì câu chuyện cãi nhau về Trương Yêm, Trần Trạch mà hai người thù oán nhau. Thường Sơn Vương phản lại Hạng Vương, mang đầu Hạng Anh bỏ trốn về với Hán Vương. Hán Vương phái Thường Sơn Vương đem quân xuống miền đông, giết Thành An Quân ở phía Nam sông Kỳ, đầu một nơi, chân một nẻo. Rốt cục làm trò cười cho thiên hạ. Hai người ấy chơi với nhau thân thiết nhất trong thiên hạ, rốt cục lại giết lẫn nhau. Tại sao thế? Đó là vì ham muốn nhiều thì sinh lo nghĩ và lòng người khó lường. Nay túc hạ muốn làm việc trung tín để kết giao với Hán Vương thì thế nào tình bạn cũng không vững chắc hơn tình bạn của hai người kia. Đã thế, công việc lại nhiều và lớn hơn việc Trương Yêm, Trần Thích, cho nên tôi cho rằng nếu túc hạ tin rằng Hán Vương thế nào cũng không làm hại mình là lầm to? Ngày xưa, Phạm Lãi, đại phu Chủng làm cho nước Việt sắp mất được tồn tại, làm cho Câu Tiễn dựng lên nghiệp bá, lập nên công, thành được danh, thế mà người thì chết, kẻ thì bỏ trốn. Thú trong đồng nội đã hết thì chó săn bị nấu. Nói về mặt bạn bè thân thiết thì túc hạ với Hán Vương không bằng Trương Nhĩ đối với Thành An Quân. Nói về mặt trung tín thì chẳng qua như đại phu Chủng, Phạm Lãi đối với Câu Tiễn là cùng, túc hạ cứ xem hai người đó là đủ rõ. Xin túc hạ suy nghĩ cho sâu. Vả chăng, tôi nghe nói dũng cảm mưu lược át cả chủ thì nguy đến thân, công lớn bao trùm cả thiên hạ thì sẽ không được thưởng. Tôi xin nói về công lao và mưu lược của túc hạ. Túc hạ vượt Tây Hà, cầm tù Ngụy vương, bắt Hạ Duyệt, đem quân xuống Tỉnh Hình, giết Thành An Quân, chiêu hàng đất Triệu, uy hiếp đất Yên, bình định đất Tề, sang đất Nam đánh gãy hai mươi vạn quân Sở, sang đông giết Long Thư, quay về tây để báo công. Như thế có thể nói công ấy không có hai ở trong thiên hạ mà mưu lược ấy không phải đời nào cũng có. Bây giờ túc hạ mang cái uy lấn át cả chủ, ôm cái công không có cách nào thưởng, theo Sở thì người Sở không tin, về Hán thì người Hán hoảng sợ. Tức hạ muốn mang cái công lao, cái mưu lược ấy về đâu? Mình ở địa vị bầy tôi mà có cái uy lấn át cả chủ, có cái danh cao nhất trong thiên hạ, tôi trộm thấy làm nguy cho túc hạ.Hàn Tín cảm ơn, nói

:– Tiên sinh hãy về nghỉ, tôi sẽ nghĩ lại xem.Vài ngày sau, Khoái Triệt lại đến, nói với Hàn Tín:

– Nghe là để chuẩn bị mà làm, kế là then chất của việc. Nghe sai, kế hỏng mà vẫn ở yên được lâu là việc ít có vậy. Người nghe mà phân biệt được việc nên chăng, thì không thể dùng lời nói để làm rối loạn. Bàn mưu mà không bỏ quên điều gốc và điều ngọn thì không thể lấy lời lẽ văn hoa để làm rối loạn. Cam tâm làm phận sự của bọn tôi tớ thì sẽ mất cái quyền của người muôn cỗ xe; cứ bo bo lấy cái lộc ít ỏi thì bỏ lỡ đia vị khanh tướng. Cho nên kiên quyết là cái quyết định người khôn. Ngờ vực làm hại công việc; cứ xét cái kế nhỏ tủn mủn thì sẽ bỏ sót việc lớn trong thiên hạ.

   Một khi trí đã biết rõ mà không dám làm thì đó là điều gây nên mọi thứ tai họa. Cho nên có câu nói “con mãnh hổ do dự không bằng con ong, con bọ cạp liều đốt. Ngựa ký dùng dằng không bằng ngựa hèn bước chắc chắn. Mạnh Bôn hồ nghi không bằng con người tầm thường kiên quyết đi đến mục đích. Khôn như Nghiêu, Thuấn mà ngậm miệng không nói thì không bằng kẻ câm người điếc lấy ngón tay chỉ trỏ”. Những điều trên đây, nói rằng cái quý là ở chỗ biết hành động. Đại phàm công lao thì khó thành mà dễ bại; thời cơ thì khó được mà dễ mất. Ôi! Thời cơ không trở lại. Xin túc hạ xét rõ cho.Hàn Tín do dự không nỡ phản lại Hán vương, lại tự cho rằng mình lập được nhiều chiến công, Hán vương dẫu sao cũng không lấy mất nước Tề của mình, nên từ tạ Khoái Triệt.Khoái Triệt nói không được, bèn giả điên, làm người thầy cúng để ẩn thân.Hàn Tín không theo lời Khoái Triệt, không nỡ phản Lưu Bang mà mang quân giúp Lưu Bang đánh bại Hạng Vũ ở Cai Hạ, tiêu diệt Tây Sở.Quả nhiên như lời ông và Vũ Thiệp, sau khi diệt được Sở lên làm hoàng đế,

  Lưu Bang bắt đầu tính chuyện trừ khử Hàn Tín để loại trừ mối lo. Đầu tiên cải phong Hàn Tín từ Tề vương sang làm Sở vương. Sau đó lại vô cớ bắt Hàn Tín mang về kinh đô Tràng An, giáng làm Hoài Âm hầu.Năm 196 TCN, Trần Hy làm phản, Lưu Bang thân chinh đi đánh. Hàn Tín bị vu cáo liên kết với Trần Hy để phản triều đình, bị thừa tướng Tiêu Hà dụ vào cung và bị Lã Hậu sai võ sĩ bắt trói, mang chém ở nhà treo chuông trong cung Trường Lạc. Lúc sắp bị chém, Hàn Tín nói:

– Ta hối hận không dùng mưu kế của Khoái Triệt, cho nên mới bị bọn đàn bà con nít lừa dối. Há chẳng phái là vì trời muốn thế hay sao?Lã Hậu giết cả ba họ nhà Hàn Tín. Sau khi Lưu Bang đã dẹp xong quân của Trần Hy trở về kinh đô, thấy Tín đã chết nhà vua vừa mừng vừa thương, hỏi Lã hậu:

– Lúc chết, Tín có nói gì?Lã Hậu đáp:

– Tín nói tiếc không dùng mưu kế của Khoái Triệt.Lưu Bang bèn ra chiếu cho nước Tề bắt ông. Khoái Triệt đến, Lưu Bang hỏi:

– Nhà ngươi dạy cho Hoài Âm hầu làm phản phải không?Ông đáp:

– Vâng, tôi có dạy cho hắn, thằng trẻ ranh kia không dùng kế của tôi cho nên đến nông nỗi này. Giá nó dùng kế của tôi thì bệ hạ làm sao diệt nó được.Lưu Bang nổi giận ra lệnh:

– Đem nấu nó đi!Khoái Triệt nói:

– Trời ơi! Tôi bị nấu thật là oan.

– Nhà ngươi dạy cho Hàn Tín làm phản còn oan uổng nỗi gì nữa?Khoái Triệt đáp:

– Kỷ cương nhà Tần bị đứt, miền Sơn Đông nổi loạn, các miền khác đều nổi lên. Các anh hùng tuấn kiệt họp lại nhiều như quạ. Nhà Tần mất con hươu, thiên hạ cùng nhau đuổi bắt. Lúc bấy giờ ai tài cao, chân nhanh thì bắt được trước. “Chó của Chích cắn vua Nghiêu không phải vì vua Nghiêu bất nhân, nhưng là chó thì bất kỳ ai không phải chủ của nó là nó cắn”. Lúc bấy giờ thần chỉ biết có Hàn Tín, không biết có bệ hạ. Vả chăng những kẻ mài giáo, cầm mũi nhọn, muốn làm điều bệ hạ đã làm cũng rất nhiều, nhưng chỉ vì họ không đủ sức đấy thôi. Bệ hạ có thể nấu tất cả được không?

Lưu Bang không thể bắt bẻ, bèn hạ lệnh tha cho ông.

Về sau, Khoái Triệt trở về nước Tề. Lúc đó Tề vương là Lưu Phì – con trai Lưu Bang, tướng quốc nước Tề là Tào Tham. Tào Tham rất trọng vọng Khoái Triệt. Khoái Triệt bày cách cho Tào Tham mời được hai vị cao sĩ là Đông Quách tiên sinh và Lương Thạch Quân ra giúp việc cho.

HÁN SỞ TRANH HÙNG

Phu-dieu-my-thuat-70x165cm
Phu-dieu-my-thuat-70x165cm
Phu-dieu-my-thuat-70x165cm
Phu-dieu-my-thuat-70x165cm
Phu-dieu-my-thuat-70x165cm
Phu-dieu-my-thuat-70x165cm

BÌNH LUẬN